SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2”

Thứ ba - 16/01/2018 10:07
Việc dạy và học phân môn Tập làm văn lớp 2 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, hướng dẫn cụ thể trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, sách giáo viên Tiếng Việt 2, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học, trong đó nội dung đã thể hiện rõ mục đích yêu cầu, nội dung dạy học, biện pháp dạy học chủ yếu và quy trình giảng dạy từng bài cụ thể.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  “Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2”
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ NỘI
 
 
 
MÃ SKKN
 
 
 


 
  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
 
“Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn
cho học sinh lớp 2”
  
 
 
- Tác giả: Đỗ Thị Hòe
- Lĩnh vực/Môn: Tiếng Việt/ Tập làm văn
- Cấp học           : Tiểu học
- Tài liệu kèm theo: Email (th-qo@hanoiedu.vn)
  
NĂM HỌC: 2015 -  2016
 
 
MỤC LỤC
 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
1. Cơ sở lý luận 2
2. Thực trạng vấn đề 2
3. Các biện pháp đã tiến hành 3
4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 14
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15
1. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 15
2. Nhận định chung 15
3. Bài học kinh nghiệm 15
4. Đề xuất, kiến nghị 17
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
 
 
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2”
 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học được xem là nền tảng để giúp các em học lên các lớp cao hơn. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học như Bác Hồ đã ví như búp trên cành cần được nâng niu, chăm sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt. Như vậy, bậc Tiểu học vừa có tính phổ cập, vừa có tính hiện đại và nhân văn.
Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng( nghe - nói - đọc - viết ) góp phần  rèn luyện các thao tác tư duy cho các em. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam. Qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Việc nâng cáo chất lượng dạy và học trong nhà trường là một trong những việc làm quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Chính vì vậy đã có nhiều giáo viên trăn trở, suy nghĩ, chưa hài lòng với chất lượng giờ dạy nên đã miệt mài nghiên cứu, tìm tòi những sáng kiến mới, những kinh nghiệm hay nhằm đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đặc thù môn học và phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng, tự nhiên mà lại hiệu quả cao. Đây là một trong những yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục hiện nay.
Trong môn Tiếng Việt, nhiệm vụ chính của phân môn Tập làm văn là rèn luyện cho học sinh kĩ năng tạo lập văn bản. Ở đây, thuật ngữ văn bản được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Đó không nhất thiết là một bài văn gồm nhiều câu, nhiều đoạn; cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là loại văn kể chuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật. Trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, sản phẩm lời nói hoàn chỉnh mà một người tạo lập được có thể chỉ là một câu chào, một lời cảm ơn hay một vài dòng thăm hỏi, chúc mừng trên tấm thiếp…Đối với lớp 2, dạy Tập làm văn trước hết là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng phục vụ và giao tiếp hàng ngày.
Để giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn cũng là cơ sở để các em có thể học tốt các môn học khác thì đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc quy trình giảng dạy và vận dụng linh hoạt phương pháp dạy Tập làm văn để học sinh thực sự tham gia xử lý các tình huống có vấn đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả. Vấn đề này là điều băn khoăn trăn trở của đội ngũ các thầy cô giáo và các nhà quản lý giáo dục ở bậc Tiểu học. Chính vì vậy việc giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 2 trong nhà trường cần được quan tâm nhiều hơn. Nhận thức rõ tầm quan trọng của phân môn này, với vai trò là một giáo viên, tổ trưởng chuyên môn trong nhà trường, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “ Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2”
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
Việc dạy và học phân môn Tập làm văn lớp 2 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, hướng dẫn cụ thể trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, sách giáo viên Tiếng Việt 2, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học, trong đó nội dung đã thể hiện rõ mục đích yêu cầu, nội dung dạy học, biện pháp dạy học chủ yếu và quy trình giảng dạy từng bài cụ thể.
- Mục đích, yêu cầu việc dạy, học phân môn Tập làm văn lớp 2: Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng nói, viết, nghe, đọc, phục vụ cho việc học tập và giao tiếp; trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc; Bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy.
- Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 2 gồm 31 tiết (1 tiết/ tuần).
- Nội dung dạy, học phân môn Tập làm văn lớp 2 bao gồm: Các nghi thức lời nói tối thiểu; biết sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp nơi công cộng, ở gia đình, trong trường học; các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày; nói, viết về những vấn đề thuộc chủ điểm.
Tuy nhiên trên cơ sở những quy định, hướng dẫn trên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2, đòi hỏi người giáo viên phải sử dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng học sinh, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, việc dạy và học đảm bảo nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả.
2. Thực trạng vấn đề
Trong những năm qua, tôi được nhà trường phân công trực tiếp giảng dạy khối lớp 2 và làm tổ trưởng tổ 2, qua dự giờ thăm lớp của đồng chí, đồng nghiệp, tôi thấy chất lượng, hiệu quả giờ dạy của phân môn tập làm văn còn chưa cao. Trong giờ dạy, giáo viên còn làm việc nhiều, học sinh học tập thụ động, các hoạt động dạy và học còn nặng nề, gò bó, học sinh chưa hứng thú học tập, hiệu quả thấp.
2.1. Kết quả khảo sát
Đây là một phân môn mới đối với học sinh lớp 2, nên tôi tiến hành khảo sát vào tháng 10 /2015
Qua thực tế khảo sát chất lượng phân môn Tập làm văn học sinh lớp 2 đầu năm học 2015 - 2016, do tôi chủ nhiệm, kết quả cụ thể như sau:
TSHS Học sinh
làm bài tốt
Học sinh
biết cách làm
Học sinh
chưa biết cách làm
SL % SL % SL %
24 6 25 10 42 8 33
 
2.2. Nhận xét:
Qua bảng thống kê kết quả khảo sát, tôi thấy số học sinh chưa biết cách làm là 8 em chiếm tỷ lệ 33%, số học sinh làm bài tốt còn ít: 6 em đạt tỷ lệ 25%.
Qua thực tế khảo sát đầu năm cho thấy việc rèn kĩ năng Tập làm văn cho học sinh lớp 2 là rất cấn thiết để góp phần thực hiện tốt mục tiêu của nhiệm vụ năm học cũng như nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước.
2.3. Nguyên nhân
- Về phía giáo viên:
+ Phải hiểu rõ quan điểm đổi mới chương trình sách giáo khoa.
+ Cần nắm chắc nội dung chương trình và chuẩn kiến thức kỹ năng phân môn Tập làm văn.
+ Phải nắm rõ quy trình giảng dạy của phân môn Tập làm văn.
+ Vận dụng tính tích hợp thể hiện ở phân môn Tập làm văn.
+ Cần sử dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, phát huy được tính tích cực của học sinh.
+ Cần hiểu rõ thêm về các hình thức vận dụng biện pháp trực quan và biện pháp luyện tập trong phân môn Tập làm văn lớp 2.
+ Biết được kĩ năng viết đoạn văn ngắn.
- Về phía học sinh:
+ Kĩ năng làm văn của các em còn nhiều hạn chế.
+ Nhiều em chưa biết cách làm văn, trình bày chưa đẹp, chưa rõ ràng, dùng từ chưa chính xác.
+ Chưa biết tích hợp ở mối quan hệ giữa tập làm văn với môn học khác.
+ Chưa nắm được kĩ năng viết đoạn văn ngắn.
- Về phía nhà trường:
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo được yêu cầu giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
3. Các biện pháp đã tiến hành
Xuất phát từ tình trạng trên, tôi đã tự nghiên cứu và tiến hành các biện pháp dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2 như sau:
 
3.1. Hiểu rõ quan điểm đổi mới chương trình sách giáo khoa
- Quan điểm lớn thứ nhất là: Lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản. Về nội dung, nhằm dạy cho học sinh từ những nghi thức của lời nói đến các kĩ năng làm việc và giao tiếp với cộng đồng. Về phương pháp dạy học, các kĩ năng đều được rèn luyện thông qua các bài tập mang tính tình huống thực tế.
- Quan điểm lớn thứ hai là:  Tích hợp theo cả chiều ngang và chiều dọc. Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng việt với các mảng kiến thức văn học, cuộc sống theo nguyên tắc đồng quy, thông qua hệ thống các chủ điểm học tập; sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Tích hợp theo chiều dọc là việc tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với nhũng kiến thức và kĩ năng đã học theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là vòng tròn xoáy trôn ốc), qua từng khối lớp sẽ ngày càng đi sâu, mở rộng và được nâng cao hơn.
- Quan điểm lớn thứ ba là:  Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động học tập cho học sinh và mỗi học sinh đều được hoạt động tích cực để tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng đều được tự bộc lộ mình và phát triển.
3.2. Nắm chắc nội dung chương trình và chuẩn kiến thức kỹ năng môn học về phân môn Tập làm văn lớp 2
Cả năm học có 35 tuần thì học sinh được học 31 tiết Tập làm văn. Trong 4 tuần ôn tập giữa học kì I và giữa học kì II, cuối học kì I và cuối học kì II ( mỗi tuần có 9 tiết Tiếng Việt) cũng có rất nhiều bài tập thuộc phân môn Tập làm văn.
Các em được rèn luyện cả 4 kĩ năng nghe, đọc, nói, viết. Ở hầu hết các tiết học, học sinh đều được rèn luyện cả hình thức nói và viết, thường là tập nói trước, tập viết sau. Ở học kì II có rất nhiều tiết rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh thông qua hình thức nghe kể chuyện rồi trả lời câu hỏi theo nội dung câu chuyện.
Từ các hình thức này, học sinh được hình thành từng bước kĩ năng tạo lập văn bản qua từng công đoạn, từ các yêu cầu đơn giản như điền từ hoặc cụm từ vào chỗ trống, quan sát tranh và trả lời câu hỏi đến việc nói hay viết một đoạn văn theo một đề tài nhất định.
Về nội dung, qua các tiết Tập làm văn, học sinh được học:
- Các nghi thức của lời nói như cách chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ, yêu cầu, đề nghị, đồng ý, từ chối, chia vui, chia buồn…; cách nói lời đáp lại lời cảm ơn, xin lỗi, đồng ý, từ chối, chia vui, chia buồn… để sử dụng các tình huống giao tiếp cụ thể đó trong  gia đình, ở nhà trường hoặc ngoài xã hội.
- Các kĩ năng phục vụ học tập và sinh hoạt hàng ngày như cách khai một bản tự thuật ngắn, viết một lá thư ngắn để nhắn tin, viết một tấm thiệp chúc mừng hoặc chia buồn, cách gọi điện thoại và giao tiếp qua điện thoại, cách đọc và lập danh sách học sinh thuộc tổ, nhóm, cách tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, cách đọc và lập thời gian biểu của bản thân…
- Nói, viết một vấn đề thuộc một chủ điểm nhất định, như kể lại một sự việc đơn giản  từ 3 đến 5 câu; tả sơ lược về một người thân như ông bà, bố mẹ, anh chị em, thầy giáo, cô giáo; tả một đồ vật quen thuộc; tả một con vật gần gũi như con chim, con gà, con chó, con mèo, con lợn…, tả lại một cảnh theo tranh như cảnh biển buổi sáng sớm. 
3.3. Tính tích hợp thể hiện ở phân môn Tập làm văn
Tính tích hợp thể hiện trước hết ở mối quan hệ giữa Tập làm văn với các phân môn khác trong cùng một đơn vị học mà rõ nhất là phân môn Tập đọc. Nội dung các bài Tập làm văn và tập đọc đều xoay quanh một chủ điểm. Chẳng hạn, chủ điểm của các bài tập đọc ở tuần 15, 16 là anh chị em thì các bài Tập làm văn cũng thể hiện chủ điểm ấy. Ví dụ :
- Bạn Nam chúc mừng chị Liên được giải Nhì trong kì thi học sinh giỏi của tỉnh. Hãy nhắc lại lời của Nam.
- Em sẽ nói gì để chúc mừng chị Liên ?
- Hãy viết từ 3 đến 4 câu kể về anh, chị, em ruột ( hoặc anh, chị, em họ ) của em.                                                              
(Tiếng Việt 2, tập một, trang 126)
Đặc biệt, các bài tập đọc thường còn được dùng làm mẫu để tạo lập văn bản. Ví dụ, hàng loạt văn bản thông thường được học trong phân môn tập đọc như Tự thuật, Bưu thiếp, Nhắn tin, Mục lục sách… đã trang bị cho học sinh những hiểu biết ban đầu và trên cơ sở đó rèn luyện các kĩ năng biết tự thuật, bưu thiếp, nhắn tin, tra mục lục sách, nhận và gọi điện thoại… Sự gắn bó chặt chẽ giữa kiến thức và kĩ năng làm văn với các mảng kiến thức về tự nhiên, xã hội và các kĩ năng sống cũng thể hiện rõ nét tính tích hợp trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2
Xét trong mối quan hệ với sách giáo khoa Tiếng Việt các lớp khác, kĩ năng làm văn trong sách Tiếng Việt 2 là sự tiếp nối, nâng cao những kĩ năng giao tiếp thông thường đã được rèn ở lớp 1, đồng thời cũng là bước chuẩn bị để phát triển thành một số kĩ năng giao tiếp chính thức ở lớp 3 và các lớp cuối cấp .
3.4. Nắm rõ quy trình giảng dạy
Trừ những tiết dành cho học sinh làm trọn vẹn một bài viết thì các hoạt động dạy - học trong giờ Tập làm văn lớp 2 được tổ chức theo quy trình cơ bản sau:
A. Kiểm tra bài cũ.
Nội dung của bước này là yêu cầu học sinh làm lại bài tập ở tiết trước, bài tập ở nhà hoặc nhắc lại những nội dung cần ghi nhớ về kiến thức và kĩ năng ở bài học trước. Giáo viên cũng có thể nêu nhận xét về kết quả bài viết của học sinh trong những tiết trước, nếu có.
B.Dạy bài mới.
1. Giới thiệu bài.( theo gợi ý trong SGV)
Giáo viên nêu mục đích yêu cầu của tiết học và ghi tên bài lên bảng lớp.
2. Hướng dẫn học sinh làm bài tập.
Nội dung của bước này là hướng dẫn học sinh thực hiện lần lượt từng bài tập trong sách giáo khoa. Mỗi bài tập được hướng dẫn giải theo trình tự như sau
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, bằng lời giải thích).
- Giáo viên giúp học sinh chữa một phần của bài tập mẫu (một học sinh chữa mẫu trên bảng lớp hoặc cả lớp làm bài vào vở hay bảng con).
- Học sinh làm bài vào bảng con hoặc vào vở. Giáo viên theo dõi giúp đỡ học sinh.
- Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri thức.
C. Củng cố, dặn dò.
Nội dung của bước này là giáo viên cùng học sinh chốt lại nội dung kiến thức và kĩ năng đã học tập; nêu yêu cầu thực hiện những hoạt động tiếp nối nhằm củng cố kết quả luyện tập ở lớp (ví dụ : thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kĩ năng đã học vào thực tế cuộc sống...)
3.5. Phân tích một tiết Tập làm văn để minh họa quy trình trên
Tôi lấy tiết tập làm văn đầu tiên của năm học (Tiếng Việt 2 tập một, trang 12) làm ví dụ. Nội dung của tiết học này dạy học sinh :
- Cách chào hỏi và tự giới thiệu.
- Cách tổ chức các câu thành bài.
Vì đây là tiết học đầu tiên của năm học mới nên không có khâu kiểm tra bài cũ. Mở đầu tiết học, tôi giới thiệu với học sinh một cách vắn tắt và giản dị về nội dung, cách học phân môn Tập làm văn và nội dung tiết Tập làm văn đầu tiên. Chẳng hạn: từ lớp 2, các em sẽ được học Tập làm văn. Tập làm văn dạy các em cách nói, cách viết sao cho đầy đủ, gãy gọn và hay. Bài tập làm văn hôm nay sẽ dạy các em cách chào hỏi, tự giới thiệu và cách kể một câu chuyện theo tranh.
Sau lời giới thiệu bài, tôi chuyển sang nội dung của tiết học là hướng dẫn học sinh làm bài tập.
Bài tập 1. Đây là một bài tập làm miệng, nội dung như sau:
Trả lời câu hỏi:
- Tên em là gì?
- Quê em ở đâu?
- Em học lớp nào, trường nào?
- Em thích những môn học nào?
- Em thích làm những việc gì?                       M: Em thích vẽ và múa hát.                                                                                 (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 12)
Đây là một bài tập được thực hiện sau khi học sinh đã học bài tập đọc Tự thuật và đã hỏi trước cha mẹ về quê quán cùng những thông tin liên quan đến gia đình các em. Mục đích của bài tập là giúp học sinh biết cách tự giới thiệu về mình với thầy cô, bạn bè hoặc người xung quanh. Đó cũng là bước chuẩn bị để tiết Tập làm văn tiếp theo, học sinh viết bản tự thuật của mình.
Trước khi học sinh làm bài, tôi giúp các em nắm vững yêu cầu của bài (bằng cách để học sinh đọc to nội dung bài tập và tự giải thích yêu cầu của bài).
Đối với bài tập này, tôi đã nhắc nhở học sinh:
- Khi trả lời, cần nhìn vào người hỏi chuyện, nói to đủ nghe với thái độ tự nhiên, nét mặt tươi vui.
- Chăm chú lắng nghe bạn nói, ghi nhớ lời bạn để làm tốt bài tập 2 (nói lại những điều em biết về một bạn).
Sau khi giúp học sinh nắm được yêu cầu của bài, tôi đã cân nhắc để chọn hình thức làm bài thích hợp. Có thể chọn hình thức giáo viên hỏi – từng học sinh trả lời, nhưng như vậy thì tiết học có nhiều khả năng sẽ diễn ra đơn điệu, nặng nề (nhất là khi học sinh cả lớp đều ở cùng một thôn hay một xã). Để gây hứng thú hoạt động đồng thời rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh, tôi đã tạo ra những tình huống giao tiếp tự nhiên như trò chơi phỏng vấn (một học sinh đóng vai phóng viên truyền hình, còn học sinh kia đóng vai người trả lời hoặc một học sinh đóng vai chị phụ trách, học sinh kia đóng vai đội viên Sao Nhi đồng, sau đó đổi vai ...). Học sinh có thể chơi trò chơi này theo nhóm hay theo đơn vị lớp. Nhưng để tất cả các em nắm được cách chơi, trước khi giao việc cho từng em, tôi đã tổ chức cho 1 hoặc 2 cặp học sinh làm mẫu trước lớp.
 
Tôi có thể chấp nhận, thậm chí khuyến khích trường hợp “phóng viên” hỏi thêm 1, 2 câu hỏi không có trong sách giáo khoa (Bạn thích đi chơi đâu ? Ở lớp, bạn thân với ai nhất ?...).
 
 
Bài tập 2. Đây là một bài tập làm miệng, có nội dung như sau : Nghe các bạn trong lớp trả lời các câu hỏi ở bài tập 1, nói lại những lời em biết về một bạn.
                                                                       (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 12)
 
 
Mục đích của bài tập này là rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh. Yêu cầu đặt ra với các em là :
- Có khả năng tập trung nghe, hiểu và nhớ những điều các bạn nói.
- Nhắc lại đúng những điều bạn đã nói về bản thân.
Để tiết học sinh động hơn và cũng là để học sinh khỏi quên những điều bạn mình nói, tôi đã kết hợp cho các em làm bài tập này cùng lúc với bài tập 1, nghĩa là cứ sau một cuộc “ phỏng vấn ” thì cho 1,2 học sinh nói lại những điều các em nghe được về bạn.
Cũng có thể theo cách cho học sinh tiếp nối nhau thi nói lại những điều em biết về một bạn ( nói theo thứ tự các câu hỏi nhưng không nhắc lại câu hỏi )
Tôi đã giúp mỗi học sinh tự đánh giá mình và nhận xét riêng các bạn đã nói lại điều đã biết về bạn khác có chính xác không, có rõ ràng, lưu loát không. Cuối cùng, lớp có thể bình chọn những học sinh nói đúng, nói hay nhất.
Bài tập 3 là một bài làm tập miệng: Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây trong sách giáo khoa, bằng 1,2 câu để tạo thành một câu chuyện.
                                                                             (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 12) 
 
 

 
 
 
 

 
 

 
 
 
 

 
Mục đích của bài tập trên là giúp học sinh bước đầu nắm được cách tổ chức các câu thành bài. Yêu cầu cụ thể đối với các em là:
- Nắm được nội dung mỗi bức tranh và đặt câu thể hiện đúng những nội dung đó.
- Nắm được mối liên quan giữa các tranh, từ đó tạo thành một câu chuyện.
Đối với học sinh lớp 2, yêu cầu kể chuyện rất đơn giản. Điều quan trọng nhất là học sinh nắm được nội dung sự việc diễn tả trong từng tranh, nói được thành câu và chắp các câu ấy thành một câu chuyện. Ví dụ, các em chỉ cần nói:
     Huệ cùng các bạn vào vườn hoa ( tranh 1 ). Huệ rất thích những bông hồng
 ( tranh 2 ). Huệ định hái một bông hoa. Tuấn vội ngăn bạn lại ( tranh 3). Tuấn nói với Huệ: “ Hoa của công viên, bạn đừng hái ! ” ( tranh 4 ).
Về cách tổ chức hoạt động, trước hết, tôi giúp học sinh nắm được yêu cầu của bài tập. Cụ thể:
- Học sinh đọc nội dung bài tập quan sát 4 tranh minh họa.
- Tôi hướng dẫn học sinh nắm yêu cầu củaz bài :
+ Trong bài tập này, em thấy 4 bức tranh. Nhiệm vụ của em là kể mỗi sự việc diễn ra ở mỗi tranh bằng 1 hoặc 2 câu. Sau đó em kể gộp các câu lại thành một câu chuyện.
 
 
+ Trong 4 bức tranh này có 2 tranh ( 1,2 ) lặp lại các tranh ở bài tập 3, tiết luyện từ và câu. Các em đã biết và đã kể nội dung những tranh ấy ( có thể yêu câu 1 học sinh nói lại nội dung các tranh 1,2 ).
Về hình thức làm việc của học sinh, đối với bài tập này, tôi để các em làm việc độc lập, không trao đổi nhóm về yêu cầu của bài tập rất cụ thể, mỗi em có thể tự giải quyết được, vả lại mỗi em cũng cần tự nghĩ ra những câu văn của mình. Cũng không cần có bước làm mẫu vì qua bài tập 3, tiết luyện từ và câu diễn ra trước đó, học sinh đã biết cách kể sự việc ở mỗi tranh bằng 1,2 câu.
Nhiệm vụ tiếp theo tôi tổ chức cho học sinh trình bày kết quả làm việc. Để nhiều học sinh được nói, được kể, trước hết tổ chức cho các em trình bày kết quả làm bài trong nhóm. Sau đó, các nhóm sẽ thi kể chuyện. Đại diện nhóm không nhất thiết là học sinh khá, giỏi. Tôi nắm quyền chỉ định để mọi học sinh trong lớp, kể cả học sinh yếu, đều được kể. Vì có nhiều lượt học sinh kể một câu chuyện khá đơn giản nên có thể xảy ra hiện tượng kể lặp lại. Điều đó không quan trọng. Quan trọng là có nhiều học sinh được kể. Đối với những học sinh biết dùng từ mới, đặt được câu văn mới so với những từ các bạn đã dùng, những câu các bạn đã đặt, tôi đã khen ngợi để động viên cả lớp tìm những cách diễn đạt mới. Đối với những lớp có trình độ khá, giỏi đồng đều, học sinh có thể viết vào vở nội dung tranh 3, 4 ( hoặc kể toàn bộ câu chuyện theo 4 tranh ).
Cuối giờ, tôi cho lớp bình chọn những học sinh kể chuyện hay nhất và nhấn mạnh điều mới biết để học sinh ghi nhớ ( không cần chép lại ) : ta có thể dùng các từ để đặt thành câu, kể một sự việc. Cũng có thể dùng một số câu để tạo thành bài, kể một câu chuyện.
Qua giáo án này, có thể thấy là để tổ chức cho học sinh làm tốt các bài tập làm văn ở tiết 1 theo hướng tích cực hóa, cá thể hóa hoạt động của mỗi em, tôi cần:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài(bằng lời giải thích của giáo viên, bằng bài làm mẫu của 1, 2 học sinh ).
- Chọn cách tổ chức hoạt động vừa hợp với từng bài vừa có khả năng kích thích hứng thú của học sinh: trò chơi phỏng vấn (Bài tập 1); thi nói tiếp nối (Bài tập 2 ); làm việc độc lập thi kể chuyện theo tranh (Bài tập 3)
- Khuyến khích học sinh thể hiện đúng những điều các em nghĩ, không gò ép các em nói, viết theo 1 khuôn mẫu để mỗi em đều có 1 bản tự thuật về mình (Bài tập 1), nói điều mình nghe được về một bạn (Bài tập 2); có 1 câu chuyện diễn đạt bằng ngôn ngữ, cách nghĩ của riêng mình (Bài tập 3). 
3.6. Kĩ năng viết đoạn văn ngắn
Đối với học sinh lớp 2, việc rèn kĩ năng viết đoạn văn ngắn là rất cần thiết. Trong chương trình, hầu hết các bài văn đều có các câu hỏi gợi ý. Tôi đã nhấn mạnh cho học sinh đây chỉ là những câu hỏi gợi ý không phải là bài trả lời câu hỏi. Học sinh có thể dựa vào những câu hỏi gợi ý hoặc không miễn sao là viết được đoạn văn ngắn hay và đúng chủ đề.
* Trình tự các bước khi viết một đoạn văn ngắn
   - Viết câu mở đầu: giới thiệu đối tượng cần viết (có thể diễn đạt bằng 1 câu )
- Phát triển đoạn văn: kể về đối tượng (có thể dựa theo câu hỏi gợi ý, mỗi gợi ý có thể diễn đạt 2, 3 câu tùy theo năng lực của học sinh)
- Câu kết thúc: có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa ích lợi của đối tượng đó đối với cuộc sống với mọi người
Ví dụ minh họa: Kể về một con vật nuôi trong nhà mà em biết.
                                                                       (Tiếng việt 2 tập 1 trang 137)
Đối với bài tập này tôi hướng dẫn học sinh có thể kể về một trong những con vật được vẽ gợi ý trong sách giáo khoa (bò, chó, gà, ngựa, trâu, mèo) hoặc một con vật nuôi nào khác mà em biết (không có trong tranh vẽ ở sách giáo khoa); chỉ cần kể ngắn gọn vài nét tiêu biểu về con vật (khoảng 4 ; 5 câu)
- Chọn con vật nuôi trong nhà mà em biết để kể lại theo những câu hỏi gợi ý sau:
+ Con vật nuôi trong nhà mà em biết là con gì ?
+ Con vật đó có đặc điểm gì nổi bật (về hình dáng, hoạt động...)?
+ Theo em, con vật nuôi đó được nuôi để làm gì ?
+ Thái độ của em đối với con vật nuôi ấy ra sao ?
Câu mở đầu: Giới thiệu con chó Nhà em có nuôi một con chó tên là Micky
Phát triển đoạn văn: Kể về con chó  
Nó có bộ lông vàng mượt như tơ. Đôi mắt của nó rất sáng và đôi tai vểnh lên trông mới đáng yêu làm sao! Nó thường nằm trước cửa để giữ nhà.
 
Câu kết thúc: Tình cảm của em đối với con chó  
Hằng ngày, em thường cho nó ăn. Em rất yêu quý con chó của nhà em.
 
 
* Cách trình bày một đoạn văn ngắn như sau:
+ Các lề một ô viết hoa.
+ Viết rõ ràng, sạch đẹp, không sai lỗi chính tả, dùng từ đặt câu cho đúng.
+ Viết liền mạch, hết ý phải chấm câu.
+ Cuối câu có dấu chấm, chữ cái đầu câu viết hoa.
+ Viết xong phải đọc lại bài, phát hiện và sửa chữa lỗi sai.
3.7. Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy Tập làm văn nhằm đạt hiệu quả thiết thực
Phân môn Tập làm văn có tính tổng hợp, rèn cho học sinh cả 4 kĩ năng: nói, viết(trọng tâm), nghe, đọc. Để việc dạy học Tập làm văn ở lớp 2 có hiệu quả thiết thực, giáo viên cần nắm chắc những yêu cầu cơ bản nói chung là yêu cầu tối thiểu dành cho những học sinh có điều kiện học tập còn nhiều hạn chế. Từ đó có những biện pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp, phát huy được tính tích cực và hứng thú học tập của học sinh. Dưới đây là một số điểm gợi ý về việc vận dụng linh hoạt phương pháp dạy Tập làm văn.
- Dạy thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu về một số hiểu biết, kĩ năng phục vụ học tập và đời sống: tôi sử dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh thực hành giao tiếp là chủ yếu. Nhưng, để giảng dạy có hiệu quả, tôi đã suy nghĩ và tìm ra được hình thức tổ chức dạy học nhẹ nhàng, phù hợp với từng bài tập, chuẩn bị các đồ dùng dạy học đơn giản, tạo ra được các tình huống sử dụng nghi thức lời nói gần gũi với hoàn cảnh giao tiếp tự nhiên của học sinh. Ví dụ: hướng dẫn và tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi phỏng vấn khi học các bài chào hỏi tự giới thiệu, giới thiệu về một bạn, ...; giúp học sinh đóng hoạt cảnh theo tình huống cần luyện tập về các bài cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, nhờ cậy ... nhận và gọi điện thoại, ....; chuẩn bị các phương tiện (bảng phụ, bảng nhóm, giấy trắng, phong bì, sách truyện,... ) để học sinh tự khai bản tự thuật ngắn, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu ...
- Dạy cách tổ chức đoạn văn, bài văn, rèn kĩ năng diễn đạt (nói, viết) thông qua nhiệm vụ kể một sự việc đơn giản hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi: tôi đã hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng lời giải thích, bằng cách làm mẫu của 1; 2 học sinh) gợi ý học sinh quan sát kĩ tranh vẽ để kể chuyện hoặc quan sát đoạn văn mẫu về miêu tả (có thể dùng câu hỏi dẫn dắt); tổ chức học sinh thực hiện bài tập bằng hình thức nhẹ nhàng, hứng thú (làm bài cá nhân hoặc theo cặp, thi nói nối tiếp theo từng tranh, thi kể toàn bộ câu chuyện, đọc và bình chọn đoạn văn miêu tả hay, ...). Trong các bài tập kể chuyện hay miêu tả ngắn, yêu cầu tổ chức đoạn văn, bài văn thường xác định rõ trong sách giáo khoa (nói, viết từ 3 đến 5 câu). Khi thực hành luyện tập tùy theo trình độ học sinh có thể nói (viết) nhiều hơn 5 câu nhưng giáo viên tuyệt đối không được yêu cầu học sinh viết thành bài văn có bố cục đầy đủ, hoàn chỉnh như ở các lớp 4, 5. Nói như thế để giáo viên không đòi hỏi học sinh làm bài vượt yêu cầu đối với lớp 2.
- Ở các lớp có nhiều học sinh yếu, hạn chế về vốn Tiếng Việt, tôi đã thực hiện theo hướng dẫn chỉ đạo nêu tại công văn 896/ Bộ giáo dục và đào tạo - giáo dục Tiểu học ngày 13 - 2 - 2006 của Bộ giáo dục và đào tạo, điều chỉnh nội dung và phương pháp ở lớp 2 như sau:
+ Đối với các bài tập đồng dạng, giáo viên có thể chọn cho học sinh làm tại lớp một phần trong số các bài tập ấy. Ví dụ:
* Sách giáo khoa Tiếng việt 2 tập 1: bài tập 1, bài tập 3 (trang 30) – học sinh thực hiện một trong 2 bài tập (1 hoặc 3) ; Bài tập trang 38 – học sinh thực hiện 2 trong 3 phần a, b, c ở bài tập 2; Bài tập 2, bài tập 3 ( trang 62 )
- Học sinh thực hiện 1 trong 2 bài tập ( 2 hoặc 3 ); bài tập 1, bài tập 2 (trang 94) – học sinh thực hiện 1 trong 2 bài tập ( 2 hoặc 3).
* Sách giáo khoa Tiếng việt , tập 2: bài tập 2 ( trang 39) - học sinh thực hiện 2 trong các phần a,b,c,d.
+ Đối với các bài tập có cả yêu cầu cả nói và viết, giáo viên có thể cho học sinh thực hiện 1 trong 2 yêu cầu ( nói hoặc viết). Ví dụ: bài tập 3, trang 37, Tiếng việt 2, tập 1: học sinh dựa theo mục lục sách, nói tên các bài tập đọc ở tuần 6 ; Bài tập 3, trang 137,Tiếng Việt 2, tập 2: học sinh nói về thời gian biểu buổi tuối của mình.
4. Hiệu quả Sáng kiến kinh nghiệm
Trong quá trình giảng dạy, do nắm được vai trò quan trọng của phân môn Tập làm văn nên những việc làm trên đã được tôi tiến hành thường xuyên trong giờ Tập làm văn.
Kết quả học tập cả năm của lớp có sự tiến bộ vượt trội, cụ thể như sau:
 
TSHS Nhận xét Khi chưa thực hiện Sau khi thực hiện Đối chứng
TS % TS %
24 Học sinh làm bài tốt 6 25,0 13 54,0 Tăng 29%
Học sinh biết cách làm 10 42,0 11 46,0 Tăng 4%
Học sinh chưa biết cách làm 8 33,0 0 0 Giảm 33%
 
Qua bảng thống kê chất lượng khảo sát trên ta thấy: sau khi áp dụng các biện pháp về dạy tập làm văn đã nêu trên, kết quả đã tăng lên rõ rệt (học sinh làm bài tốt tăng 29%; học sinh biết cách làm bài tăng 4%; Học sinh chưa biết cách làm giảm 33 %).
Có được kết quả trên là do sự đổi mới về phương pháp dạy học phù hợp với phân môn Tập làm văn. Các em đã có hứng thú học tập, chủ động , tích cực trong mỗi giờ học. Ở mỗi tiết Tập làm văn, các em đã có ý thức tốt trong học tập. Hầu hết các em đều viết bài đúng, nhanh, đẹp, trình bày rõ ràng, cẩn thận. Đối với giáo viên, tôi cảm thấy tiết dạy thật nhẹ nhàng, thoải mái mà hiệu quả lại cao.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Ý nghĩa của Sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy trong giờ Tập làm văn ở lớp 2 do tôi phụ trách, các em học sinh đã tiếp thu bài tốt hơn. Đặc biệt không khí trong những giờ Tập làm văn  trở nên sôi nổi hơn, học sinh tích cực thi đua học tập, các em chuyển từ thụ động sang chủ động chiếm lĩnh kiến thức, thích thú với những hình thức học tập mới. Điều đáng mừng hơn là các em không còn ngại học Tập làm văn như trước kia nữa. Các em đã có ý thức tốt trong giờ học,. Cụ thể là:
- Kĩ năng làm văn của các em tốt hơn.
- Các em đã biết cách làm văn, trình bày đẹp, rõ ràng, dùng từ chính xác.
- Biết tích hợp ở mối quan hệ giữa tập làm văn với môn học khác.
- Nắm được kĩ năng viết đoạn văn ngắn.
2. Nhận định chung
          Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2” đã được bản thân tôi nghiên cứu và thực hiện hiệu quả, nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 2. Sáng kiến kinh nghiệm này cần được phổ biến đến tất cả đội ngũ giáo viên Tiểu học. Khi áp dụng Sáng kiến, kinh nghiệm vào thực tế quá trình giảng dạy tôi thấy dễ áp dụng, không phải đầu tư kinh phí. Do vậy cần phải thực hiện các biện pháp một cách đồng bộ, thường xuyên, có như vậy sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
3. Bài học kinh nghiệm
Đối với học sinh lớp 2, Tập làm văn là phân môn có tầm quan trọng đặc biệt. Việc rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh lại càng quan trọng hơn. Vậy, muốn các em học tốt phân môn Tập làm  văn cũng như các phân môn khác thì không thể “nhồi nhét” một cách cứng nhắc kiến thức vào đầu học sinh mà đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp dạy học phù hợp, học sinh phải được thực hành nhiều để hình thành kĩ năng. Tuỳ theo từng bài, từng đối tượng học sinh mà sử dụng phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học phù hợp để phát huy tối đa tính tích cực của học sinh.
Muốn đạt được điều đó, trong quá trình tổ chức dạy học phân môn Tập làm văn cần phải lưu ý một số vấn đề sau:
* Đối với giáo viên:
- Phải hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn, từ đó có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hợp lý.
- Xác định rõ mục tiêu của từng tiết dạy để chuẩn bị một cách chu đáo và đầy đủ các phương tiện dạy học phù hợp với bài dạy, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.
- Coi trọng nguyên tắc dạy học vừa sức theo chuẩn kiến thức kỹ năng đã quy định để từ đó tuỳ theo đối tượng học sinh mà nâng mức chuẩn cho phù hợp.
- Phân loại đối tượng học sinh trong lớp để có biện pháp giúp đỡ, động viên các em theo nhóm đối tượng. Có như vậy giờ dạy và học mới đạt hiệu quả cao.
- Với phương châm lấy học sinh làm trung tâm, tôi luôn tạo ra trong lớp học một không khí sôi nổi, thoải mái, tạo tâm thế cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động.
- Mỗi giáo viên phải tận tâm, nhiệt tình, yêu thương học sinh.
- Thường xuyên rèn luyện kĩ  năng Tập làm văn (vì tư duy của trẻ chủ yếu là trực quan và rất thích bắt chước theo cô giáo).
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học chu đáo, có chọn lọc và sáng tạo.
- Luôn tạo ra hứng thú cho các em trong mỗi giờ học bằng nhiều hình thức để phục vụ bài học.
- Tuyên dương, khen thưởng kịp thời những em có nhiều cố gắng, có tiến bộ trong việc làm văn.
- Giáo viên phải luôn gần gũi học sinh để khám phá và hiểu từng trẻ, mọi ý kiến của trẻ phải được tôn trọng để đánh giá đúng học sinh theo thông tư 30.
- Giáo viên yêu cầu học sinh phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập cho giờ Tập làm văn.
- Tăng cường dự giờ thăm lớp để trao đổi học tập lẫn nhau. Nâng cao ý thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.
- Tích cực chủ động tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên đề do nhà trường và ngành cấp trên tổ chức.
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học phải phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình.
- Phải hình thành thói quen học tập cho học sinh một cách tích cực chủ động, và đầy đủ dụng cụ học tập cần thiết.
- Tăng cường sự phối hợp với cha mẹ học sinh để tổ chức quản lý hướng dẫn học sinh học tập ở lớp cũng như ở nhà.
- Việc rèn luyện kĩ năng tập làm văn cho học sinh phải được tổ chức thường xuyên. Có như thế, việc luyện tập làm văn mới được củng cố đồng bộ, thường xuyên, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Việc làm này đòi hỏi giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên môn cần có sự kiên trì, tính cẩn thận và lòng yêu nghề, mền trẻ.
- Để giáo dục Tiểu học luôn luôn là niềm tin của gia đình và xã hội, chúng ta - những thầy, cô giáo phải góp phần thiết thực xây dựng ngôi trường là một mái nhà ấm áp để các em cảm nhận được : “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui ”.
* Đối với tổ chuyên môn:
- Bản thân tôi là tổ trưởng tổ chuyên môn khối 2, khi sinh hoạt tổ chuyên môn, tôi đã đưa ra những kinh nghiệm này để các tổ viên cùng tham khảo và trao đổi, học hỏi để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục.
- Những kinh nghiệm này cần được áp dụng thường xuyên, liên tục để học sinh có thói quen về nề nếp học tâp, giúp tiết dạy của giáo viên nhẹ nhàng thoải mái, sinh động và hiệu quả cao.
4. Đề xuất, kiến nghị
4.1. Đối với nhà trường:
- Trang bị đầy đủ tài liệu, đồ dùng dạy học ở tất cả các môn nói chung và ở phân môn Tập làm văn nói riêng.
- Tổ chức chuyên đề để thống nhất nội dung, phương pháp dạy học cụ thể ở của phân môn Tập làm văn.
4.2. Đối với ngành cấp trên:
- Tổ chức phổ biến sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại cấp ngành cho cán bộ giáo viên học tập và áp dụng có hiệu quả.
Trên đây là một số kinh nghiệm dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 2 của bản thân tôi đã đúc rút được qua thực tế giảng dạy, không sao chép của ai nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học đối với phân môn Tập làm văn. Tuy nhiên nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm còn có những hạn chế, thiếu sót, kính mong Hội đồng khoa học các cấp xem xét, bổ sung để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!          
                                                            Ngày 05 tháng 5 năm 2016
                                                                                             Tác giả 
                                                  

 
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 ( Nhà xuất bản Giáo dục);
2. Phương pháp dạy học các môn học lớp 2 ( Nhà xuất bản Giáo dục);
3. Chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học lớp 2 ( Nhà xuất bản Giáo dục);
4. Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt 2 ( Nhà xuất bản Giáo dục).
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
 
............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
 

Tác giả bài viết: Đỗ Thị Hòe

Nguồn tin: Giáo dục dạy và học

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn bản mới

Số 292/CV-PGDDT

Hội thi giai điệu tuổi hồng Cấp Huyện năm học 2018-2019

Thời gian đăng: 18/10/2018

lượt xem: 17 | lượt tải:10

QD số 3913/QD-UBND

Quy định tiêu chí đánh giá hàng tháng đối với công chức, viên chức

Thời gian đăng: 18/10/2018

lượt xem: 29 | lượt tải:6

930_BGDĐT-GDTC

Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học

Thời gian đăng: 31/03/2018

lượt xem: 77 | lượt tải:15
Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Hỗ trợ khách hàng
Thành viên
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
1
2
3
Quảng cáo 1
Quảng cáo 2
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây