Phương pháplieen quan đến giải toán liên quan đến rút đơn vị lớp 3

PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý  luận
          Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người. Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp môn toán ở Trung học. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống.
          Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo. Nó đóng góp vào việc hình thànhcác phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Như chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của học sinh Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán rất phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh. Ở lớp 3 các em được học các kiến thức, kỹ năng ở thời điểm kết thúc của giai đoạn một, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phải nắm được tất cả các cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng, tất cả các kỹ năng khác nói chung. Đặc biệt ở lớp 3 sang học kỳ II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng toán hợp cơ bản, trong đó có dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Dạng toán này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em phải có kỹ năng giải toán tốt, kỹ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày. Sau khi dạy toán ở lớp 3 nhiều năm liền, tôi thấy các em nắm được kỹ năng giải toán như một
 
hình thức bắt trước, thụ động. Đó là điều tôi băn khoăn, suy nghĩ. Có những bài toán các em làm song, không cần thử lại, không cần xem thực tế áp dụng như thế nào, cứ để kết quả như vậy mặc dù có thể sai. Đó là những tác hại lớn khi học toán. Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh như vậy, tôi mong muốn có những sáng kiến về phương pháp giúp các em giải những dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3.
 II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích của đề tài
            Dựa trên thực trạng dạy và học toán ở lớp 3 nói chung, dạy học sinh giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng, tôi muốn đưa ra một số ý kiến đổi mới để giúp các em nắm chắc được cách giải dạng toán này một cách sâu sắc, tránh không còn bị nhầm lẫn, giúp các em nắm vững bài và yêu thích môn toán hơn. Từ đó các em có vốn kỹ năng tính toán chính xác ở những lúc cần thiết trong cuộc sống, tránh được những sai sót có thể sảy ra. tạo cho các em có tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch , có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận, kiên trì, tự tin.
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
           Áp dụng từ thực tiễn giảng dạy của bản thân, tham khảo ý kiến của đồng nhgiệp để rút ra bài học có tính ứng dụng thực tế.
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
    Lớp 3e , học sinh khối 3 - trường tiểu học Cấn Hữu – năm học 2011 -  2012
IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU;
Đối tượng nghiên cứu
                 Để làm rõ được mục đích tôi đã nói ở trên, tôi đã thấy đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 3e, học sinh khối 3 trường Tiểu học Cấn Hữu mà tôi trực tiếp phụ trách năm học 2011 – 2012 là phù hợp và thuận lợi cho việc áp dụng.
 
Nhiệm vụ nghiên cứu
           Xuất phát từ tình hình thực tế, để các em nắm vững được phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi lần lượt nghiên cứu phương pháp dạy, giải dạng toán này theo các kiểu bài với từng bứơc sau:
Bước 1: Giúp các em nắm chắc phương pháp chung để giải bài toán
Bước 2: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng hai phép tính chia.
Bước 4: Luyện tập, so sánh cách giải và củng cố kiến thức cho học sinh.
Để giải quyết được nhiệm vụ trên, tôi cần bám sát vào các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học toán ở Tiểu học nói chung, của lớp 3 nói riêng sao cho phù hợp với nhận thức của học sinh, các em có hứng thú khi học tốt, tạo không khí lớp học sôi nổi, chất lượng cao.
  V.  KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
               Khi tiến hành nghiên cứu tôi thường sử dụng các phương pháp sau:
1.    Phương pháp nghiên cứu, lý luận
            -  Đọc các tài liệu cần thiết
           - Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo.
            - Tham khảo ý kiến của lãnh đạo nhà trường, bạn bè đồng nghiệp trong tổ khối chuyên môn, giáo viên trong trường.
           2. Phương pháp kiểm tra thông kê kết quả
            - Kiểm tra chất lượng qua mỗi giai đoạn
          - Thống kê kết quả của từng giai đoạn
  
 
  3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
            Giáo viên rút nghiệm cho mình, tổng kết thành các bài học cơ bản.
    4. Phương pháp thiết kế bài dạy
          - Tiết 122: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
          - Tiết 157: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị (tiếp theo)
 
PHẦN II. NỘI DUNG
 
I. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN
          Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học là sự vận dụng các phương pháp dạy học toán nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học. Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, trong quá trình dạy học toán, giáo viên thường phải vận dụng linh hoạt các phương pháp trực quan, thực hành, gợi mở, vấn đấp, giảng dạy... tuỳ mức độ ở từng lớp. Từ trước tới nay có không ít các đồng chí giáo viên đã từng nghiên cứu về việc vận dụng các phương pháp này vào dạy các dạng toán ở các khối lớp. Ở lớp 3, chắc cũng có nhiều đồng chí đã từng nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp, hình thức tổ chức dạy một dạng toán, một kiểu bài nào đó. Tôi cũng vậy, sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy, tích luỹ, viết sáng kiến kinh nghiệm dạy học của mình, tôi đã có một ít vôn kinh nghiệm giảng dạy ở lớp 3. Nhìn lại về quá trình dạy dạng toán này, về cơ bản thì ai cũng cho rằng các em dể tiếp thu, dể làm bài, dễ nhớ, ít sai. Nhưng đi sâu hơn nữa, theo cái nhìn chủ quan của tôi, với dạng toán này các em cũng có những nhầm lẫn đáng tiếc nếu như các em không nắm chắc các đặc điểm cơ bản, phương pháp giải cơ bản của hai kiểu bài trong dạng toán này. Nếu hướng dẫn học sinh từng kiểu bài một trong một tiết  thì các em gần như làm bài theo khuôn mẫu, ít sai sót. nếu hướng dẫn hs luyện tập song song cả hai kiểu bài hoặc học song cả hai kiểu bài rồi, các em mà không nắm vững sẽ sai nhầm dễ dàng. Điều này sẽ sẩy ra với các em lực học trung bình, trung bình yếu. Do vậy, việc nghiên cứu phương pháp giúp các em giải tốt dạng toán này ở lớp 3 sẽ phải dần từng bước được khắc phục, đổi mới, kích thích học theo hình thức chủ đạo của học sinh thì chất lượng mới cao, phát huy tính tư duy, độc lập, sáng tạo ở tất cả học sinh.
II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
          Biện pháp 1:
            Tập hợp lại kết quả chất lượng sau khi học ở mỗi kiểu bài của năm học 2010 – 2011 để lấy kết quả thực nghiệm đối chiếu của năm học 2011 – 2012.
          Trong nhiều năm theo dõi học sinh học toán, đặc biệt là 2 năm gần đây tôi trực tiếp dạy các em học sinh lớp 3 giải toán, tôi thấy các em có một thói quen không tốt đó là: Đọc đầu bài qua loa, sau đó giải bài toán ngay, làm song không cần kiểm tra lại kết quả cho nên khi trả bài các em mới biết là mình sai. Đối với dạng toán này, khi giáo viên hướng dẫn song kiểu bài 1, các em làm bài khá tốt, ít nhầm lẫn, nhưng còn sai nhiều trong tính toán, khi dạy song kiểu bài 2, caácem làm bài có phần nhầm lẫn nhiều hơn, nhiều em thực hiện ở bước 2 đáng lẽ là phép chia thì các em lại làm phép nhân (giống ở kiểu bài 1). Ở năm học 2010 – 2011, tôi chưa triển khai phương pháp dạy của mình tới giáo viên trong tổ khối 3, song tôi đã để ý quan sát các em làm bài ở lớp mỗi khi dự giờ, thăm lớp, các em đã có sự nhầm lẫn đáng tiếc. Để nắm được thực trạng học sinh lớp 3 giải dạng toán này cụ thể như thế nào, tôi đã tiến hành ra hai bài toán thuộc hai kiểu bài của dạng toán này như sau rồi nhờ giáo viên khối 3 cho các em làm bài trong thời gian là 20 phút để nắm được kết quả.
          * Bài toán 1:
          Một cửa hàng có 4 bao gạo chứa 36kg. Hỏi 3 bao gạo như thế thì có thể chứa được bao nhiêu kg gạo?
* Bài toán 2:
Có 42 lít dầu đựng vào 6 can. Hỏi có 84 lít dầu thì cần bao nhiêu can như thế để đựng?
 
Sau khi chấm bài tôi nhận thấy kết quả các em làm bài như sau:
    - Có nhiều em làm đúng cả hai bài.
    - Một số em làm nhầm ở bước 2 từ kiểu bài 1 sang kiểu bài 2 và ngược lại.
    - Một số em có tính sai
    - Một vài em sai cả hai bài.
*  Kết quả cụ thể
Tổng số HS Đ -  1 -> 4 Đ - 5 -> 6 Đ – 7 -> 8 Đ - 9 -> 10
SL % SL % SL % SL %
144 14 10 52 36 30 21 48 33
* Nguyên nhân có kết quả như vậy là do phần lớn các em còn chủ quan khi làm bài, chưa nhớ kỹ các phương pháp giải dạng toán này. Mặt khác, cũng có thể là các em chưa được củng cố rõ nét về hai kiểu bài trong dạng toán nên sự sai đó không tránh khỏi. Còn nữa, đây là các bài toán áp dụng rất thực tế mà các em quên mất phương pháp thử lại nên kết quả đưa ra không chính xác.
* Xuất phát từ tình hình thực tế 2010 – 2011, tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy dạng toán này, triển khai cho từng giáo viên dạy ở khối 3 ngay từ đầu học kỳ II năm học 2011 – 2012. Mục đích chính giúp các em có phương pháp giải toán nói chung, phương pháp giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng. Làm cho các em biết chủ động thực hiện giải toán không dập khuôn máy móc mà phải dựa vào tư duy, phân tích tổng hợp từ bản thân.
 Biện pháp 2: Tổ chức chuyên đề về phương pháp dạy học kiểu bài giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng hai phép tính nhân, chia và hai phép tính chia.
Vào buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi tiến hành làm chuyên đề triển khai ý tưởng và mục đích của đề tài tới các đồng chí giáo viên trong tổ.
 
Muốn cho học sinh giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị, trước tiên chúng ta phải hướng dẫn các em nắm chắc được những bước cần thực hiện khi giải toán nói chung:
 1. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán.
 Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:
* Bước 1: Đọc kỹ đề toán
* Bước 2: Tóm tắt đề toán
* Bước 3: Phân tích bài toán
* Bước 4: Viết bài giải
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
a. Đọc kỹ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần mục đích để giúp các em nắm chắc được 3 yếu tố cơ bản. Những “dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.
          Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kỹ năng suy nghĩ trên yếu tố cơ bản của hệ thống, phân tích và xác định các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên quan đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn. Tránh thói quen xấu là vừa đọc song đề đã làm ngay.
b. Tóm tắt bài toán: Sau khi đọc kỹ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải tìm hiện rõ hơn. Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tóm tắt ấy mà nhắc lại được đề toán.
         
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi. Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt các cách sau tới học sinh:
          * Cách 1: Tóm tắt bằng chữ
          * Cách 2: Tóm tắt bằng chữ và dấu
          * Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng
          * Cách 4: Tóm tắt bằng hình tượng trưng
          * Cách 5: Tóm tắt bằng kẻ ô.
          Tuy nhiên tôi luôn luôn hướng các em chọn cách nào cho hiểu nhất, rõ nhất, điều đó còn tuỳ thuộc vào nội dung của từng bài.
c. Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài để tìm ra cách giải bài toán. Ở bước này giáo viên cxần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường:
          - Bài toán cho biết gì?
          - Bài toán hỏi gì?
          - Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
          - Cái này biết chưa?
          - Còn cái này thì sao?
          - Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
          Hướng dẫn các em phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài kỹ hơn, tự các em giải được bài toán.
d. Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.
 
e. Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
          Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời. Khi giáo viên hỏi “Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và phải trở thành thói quen đối với học sinh. Nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông qua các bước sau:
          - Đọc lại lời giải
          - Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lý yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa.
          - Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên
          - Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
          Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng dẫn các em nhìn lại toàn bộ bài giải tập phân tích cách giải, động viên các em tìm cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh.
          Cùng giáo viên khối 3 thảo luận phân tích, so sánh sự giống nhau và khác nhau ở hai kiểu bài đó, thống nhất phương pháp rèn luyện cho học sinh, tránh khi giài các em lại nhầm kiểu bài 1 với kiểu bài 2.
Biện pháp 3   Áp dụng dạy thực tế tại lớp 3E
1. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân (kiểu bài 1)
          Để học sinh nắm chắc phương pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến hành dạy ngay ở trên lớp theo phương pháp và hình thức sau:
a. Kiểm tra bài cũ: Để nhắc lại kiến thức cũ và chuẩn bị cho kiến thức mới cần truyền đạt, tôi ra đề như sau:
          “Mỗi can chứa 5 lít mật ong. Hỏi 7 can như vậy chứa bao nhiêu lít mật ong?”
         
Với bài này học sinh dễ dàng giải được như sau:
Bài giải
7 can như vậy chứa được số lít mật ong là:
5 x 7 = 35 (lít)
Đáp số: 35 lít mật ong
          Sau đó tôi yêu cầu học sinh nhận dạng bài toán đã học và giải thích cách làm, đồng thời cho học sinh nhắc lại quy trình giải của một bài toán.
b. Bài mới:
          * Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, giáo viên vừa củng cố, vừa giới thiệu bài mới các em được học.
          * Hướng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 luôn mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong?
          - Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đầu bài (3 em)
          - Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán (sử dụng phương pháp hỏi đáp)
          + Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can).
          + Bài toán hỏi gì? (1 can chưa bao nhiêu lít mật ong).
          Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng.
7 can: 35 lít
1 can: ? lít
          - Hướng dẫn học sinh phân tích để tìm ra phương pháp giải.
          - Giáo viên yêu cầu học sinh làm vào bảng con.
          - Giáo viên đưa bài giải đối chiếu.
Bài giải
Số lít mật ong có trong số can là:
35 : 7 = 5  (l)
Đáp số: 5 lít mật ong
         
Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm một can chứa bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? (phép tính chia)
          Giáo viên giới thiệu: bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can, yêu cầu chúng ta tìm số lít mật ong trong 1 can. Để tìm được số lít mật ong trong 1 can, chúng ta thực hiện phép chia. Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá trị của 1 phần trong các phần.
          Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp dụng, củng cố như ;
5 bao: 300kg hoặc 3 túi: 15 kg
                                          1 bao?    kg          1 túi?    kg
          * Hướng dẫn học sinh giải bài toán 2:  Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi 2 can có mấy lít mật ong?
          Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài (3 lần)
          Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán - giáo viên ghi bảng (phương pháp hỏi đáp).
                   7 can : 35 lít
                   2 can: ? lít
          Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: (phương pháp hỏi đáp)
          + Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? (1 can chưa được bao nhiêu lít mật ong).
          + Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? (Lấy số lít mật ong trong 7 can chia cho 7).
          + yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: ? l
          + Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can.
          (Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2)
         
- Một học sinh nêu lần lượt bài giải, giáo viên ghi bảng
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số lít mật ong có trong 2 can là:
5 x 2 = 10l (l)
Đáp số: 10 lít mật ong
          - Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị: Bước tìm số lít mật ong trong 1 can gọi là bước rút về đơn vị.
          - Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán - kiểu bài 1:
          Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:
          + Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị (giá trị một phần trong các phần bằng nhau). Thực hiện phép chia.
          + Bước 2:  Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại (giá trị của nhiều phần bằng nhau). Thực hiện phép nhân.
          Học sinh nhẩm thuộc nêu lại các bước.
          - Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng.
          - Giáo viên nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải thích cách làm như:
                   5 túi : 35 kg                   Hoặc           4 thùng : 20 gói
                   12 túi: ? kg                              5 thùng : ? gói
          Sau khi học sinh nắm chắc cách giải bài toán ở kiểu bài này, chúng ta cần tiến hành hứơng dẫn học sinh luyện tập.
c. Luyện tập
          Khi tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập qua tưqngf bài, giáo viên cần thay đổi hình thức luyện tập.
Bài 1: Hướng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh tóm tắt và giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở.
                   Củng cố bước rút về đơn vị.
                   Củng cố các bước giải bài toán này.
          Bài 2: Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi.
                    Yêu cầu 1 cặp học sinh trình bày bảng – giáo viên kiểm tra các kết quả của cả lớp.
                    Yêu cầu học sinh nêu bước rút về đơn vị.
                    Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán.
          Bài 3:  Hứơng dẫn học sinh chơi trò chơi ghép hình.
d. Củng cố dặn dò:
          Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị (kiểu bài 1).
          Giao thêm bài về nhà dạng tương tự để hôm sau kiểm tra.
          Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài 1 là: + Bài giải được thực hiện qua 2 bước:
          Bước 1: (Bước rút về đơn vị) tìm giá trị 1 đơn vị (giá trị 1 phần), (phép chia).
          Bước 2:  Tìm nhiều đơn vị (từ 2 trở lên) (phép nhân).
                   + Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị (nhiều phần).
Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải được kiểu bài 2.
 
3.Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị giải bằng 2 phép tính chia: (Kiểu bài 2)
          Khi dạy kiểu bài 2 này tôi cũng dạy các bước tương tự. Song để học sinh dễ nhận dạng, so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài, khi kiểm tra bài cũ, tôi đưa đề bài lập lại của kiểu bài 1: “Có 35 lít mật ong rót đều vào 7 can. Hỏi 2 can đó có bao nhiêu lít mật ong”. Mục đích là vừa kiểm tra, củng cố phương pháp giải ở kiểu bài 1, cũng là để tôi dựa vào đó hướng các em tới phương pháp giải ở kiểu bài 2 (giới thiệu bài).
          Bài toán ở kiểu bài 2 có dạng sau: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can. Nếu có 10 lít mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế?
          - Cách tổ chức, hướng dẫn học sinh cũng như ở kiểu bài 1.
          - Khi củng cố, học sinh nêu được ở bước 1 là rút về đơn vị và các bước thực hiện bài giải chung của kiều bài 2 này.
          + Bước 1:  Tìm giá trị 1 đơn vị (giá trị 1 phần), (Đây là bước rút về đơn vị). (phép chia).
          + Bước 2:  Tìm số phần (số đơn vị) (phép chia)
          Sau mỗi bài tập chúng ta lại củng cố lại một lần, các em sẽ nắm chắc phương pháp hơn. Đặc biệt khi học xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với cách giải ở kiểu bài 1. Cho nên, chúng ta phải hướng dẫn học sinh cách kiểm tra, đánh giá kết quả bài giải (thử lại theo yêu cầu của bài).
          Ví dụ: Các em đặt kết quả tìm được vào phần tóm tắt của bài các em sẽ thấy được cái vô lí khi thực hiện sai phép tính của bài giải như:
                   35  l : 7 can                    35  l : 7 can
                   10 l : 2 can (đúng)                   10 l : 50 can (vô lí)
          Từ đó các em nắm chắc phương pháp giải kiểu bài 2 tốt hơn, có kĩ năng, kĩ xảo tốt khi giải toán.
 
 
4. Hướng dẫn học sinh luyện tập so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài:
          Để học sinh luyện tập tốt hơn 2 kiểu bài này, tôi đã hướng dẫn các em so sánh các bước giải và đặc điểm của mỗi kiểu bài.
Các bước Kiểu bài 1
(Tìm giá trị của các phần)
Kiều bài 2
(Tìm số phần)
 
1
- Tìm giá trị của 1 phần
(Phép chia)
(Đây là bước rút về đơn vị)
- Tìm giá trị của 1 phần
(Phép nhân)
(Đây cũng là bước rút về đơn vị)
 
2
- Tìm giá trị của nhiều phần
(Phép nhân)
- Lấy giá trị 1 phần nhân với số phần.
- Tìm số phần
(Phép chia)
- Lấy giá trị các phần chia cho giá trị 1 phần.
          Sau đó, tôi yêu cầu học sinh học thuộc để áp dụng nhận dạng kiểu bài và giải các bài toán đó. Khi luyện tập, tôi tiến hành cho học sinh luyện 2 bài tập song song với nhau, mục đích là để các em vừa làm, vừa nhận dạng, so sánh. Sau mỗi lần luyện tập như vậy, chúng ta lại củng cố kiến thức một lần cho các em, chắc các em không còn nhầm lần nữa.
* Lần 1:
          Bài toán 1:  Có 5 túi gạo chưa được 40 kg. Hỏi 3 túi gạo thì chứa được bao nhiêu ki – lô – gam gạo?
          Bài toán 2:  Có 40 ki – lô – gam gạo đựng vào 5 túi. Hỏi có 24 kg gạo thì cần bao nhiêu túi như thế để đựng?
          * Củng cố cách giải, mối quan hệ giưũa cac phép tính trong 2 bài toán này. Mặt khác học sinh dễ dàng nhìn nhận ra lỗi sai của mình, nếu như nhầm phép tính. (Bài toán 2 là bài toán ngược của bài toán 1).
 
* Lần 2:
          Bài toán 1:  Có 4 cái áo đơm hết 24 cái cúc áo. Hỏi có 1236 cúc ào thì đơm được bao nhiêu cái áo như thế?
          Bài toán 2:  Ba thùng như nhau đựng được 27 lít mật ong. Hỏi 7 thùng như thế thì đựng được bao nhiêu kg mật ong?
          * Đổi thứ tự bài để học sinh củng cố được cách nhận dạng 2 kiểu bài và phương pháp giải.
          Tóm lại:
 Trên đây là phương pháp hướng dẫn các me học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán: bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi tin rằng nếu chúng ta làm được như vậy thì các em nắm được phương pháp giải dạng toán này tốt hơn, chắc chắn hơn, tránh được những sai sót có thể sảy ra. Các em sẽ có được tinh thần phấn khởi, tự tin giải toán.
  III/ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG:
Trong suốt quá trình nghiên cứu, quan sát học sinh giải toán tôi thấy các em rất thích giải toán khi các em đã có đủ vốn kiến thức, phương pháp giải toán. Các em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em được thầy cô nhiệt tình hướng dẫn với phương pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhât. Với phương pháp này tô đã trang bị cho các em vốn kiến thức phương pháp cơ bản để các em giải dạng toán này không nhầm lẫn, sai sót đến chất lượng học của các em được nâng lên rõ rệt. Dạy song kiểu bài 1, so với năm học 2010 – 2011, năm nay các em làm bài tốt hơn nhiều, chất lượng tăng 20%. Dạy xong kiểu bài 2, chất lượng càng tăng hơn 15% so với thời điểm năm ngoái. Nhìn chung, các em được giải toán, só sánh cách giải của 2 kiểu bài này, cho nên các em làm bài chính xác cao, chất lượng khả quan. Qua khảo sát chất lượng học sinh khối 2 năm học này tôi thu được kết quả như sau:
Tổng số HS Đ 1 -> 4 Đ 5 -> 6 Đ 7 -> 8 Đ 9 -> 10
SL % SL % SL % SL %
147 3 4 15 10 53 33 74 53
Nhìn vào bảng kết quả trên tôi thấy đó là kết quả thực chất của các em. Kết quả đó cho chúng ta thấy được có phương pháp tốt thì học sinh làm bài tốt hơn. Chất lượng học của học sinh không tự dưng mà có được, mà đòi hỏi mỗi người giáo viên chúng ta biết phương pháp truyền đạt đến từng đối tượng học sinh. Nhiều đồng chí cho rằng dạng toán này dễ. Song, không hẳn như vậy, nếu chúng ta truyền đạt kiến thức, phương pháp hời hợt thì các em dễ dàng nhầm lẫn ở bước 2 của 2 kiểu bài đó, cũng có khi nhầm cả sang dạng toán khác. Cho nên dạy toán ở dạng dạng toán này, chúng ta càng cẩn thận chi tiết bao nhiêu thì chất lượng tiếp thu và làm bài càng tăng lên, các em học toán tự tin hơn.
 
PHẦN III. KẾT LUẬN
 
  I. Ý NGH ĨA CỦA ĐỀ TÀI VỚI CÔNG TÁC ĐƯỢC GIAO
             Ngay từ khi bước sang học kỳ II của năm học này tôi đã tiến hành triển khai chuyên đề Toán lớp 3 để các đồng chí giáo viên trong tổ nắm được phương pháp giải dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị. Cho nên khi dạy đến dạng toán này, phương pháp dạy theo chuyên đề đã được áp dụng với tất cả học sinh các lớp ở khối 3. Chính vì vậy các em đã nhanh chóng nắm được cách giải kiểu bài 1 rồi đến kiểu bài 2 của dạng toán này, các em biết phân tích để thấy được sự giống nhau, khác nhau khi thực hiện bài giải, đặc biệt là các em biết nhận dạng toán này một cách thành thạo, có kỹ năng. Các em học sinh trung bình thì làm khá tốt. Đó là tất cả những gì chúng ta mong muốn để có được khi dạy học sinh giải toán. Tôi mong muốn giải pháp này sẽ được áp dụng sâu rộng hơn để quá trình dạy học toán, thích giải toán và thích tìm tòi, khám phá cái mới, cái cần có khi giải toán. Đạt được tất cả những điều trên đó là thành công lớn trong giảng dạy.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
          Quá trình dạy học Toán 3 phải góp phần thiết thực vào việc hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và làm việc tích cực, chủ động, khoa học, sáng tạo cho học sinh. Cho nên, giáo viên cần tổ chức học sinh học tập thường xuyên tạo ra các tình huống có vấn đề, tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ năng vấn đề đó, huy động các kiến thức và các công cụ đã có để tìm ra con đường hợp lý nhất giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong quá trình giải quyết vấn đề, diễn đạt các bước đi trong cách giải, tự mình kiểm tra lại kết quả đã đạt được, cùng các bạn rút kinh nghịêm về phương pháp giải. Tuy nhiên, để tổ chức được các học sinh học tập, giáo viên cần xác định được: Nội dung toán cần cho học sinh lĩnh hội là gì? Cần tổ chức các hoạt động như thế nào? Mặt khác, nội dung dạy giải toán ở lớp 3 được sắp xếp hợp lý, đan xen và tương hợp với mạch kiến thức khác, phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 3. Dạy học giải toán có lời văn là một trong những con đường hình tghành và phát triển trình độ tư duy của học sinh. Các em biết phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định.
          Tuy nhiên, giáo viên phải chủ động tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động theo chủ đích nhất định với sự trợ giúp đúng mức của giáo viên, của sách giáo khoa và đồ dùng dạy học, để mỗi cá nhân học sinh “khám phá” tự phát hiện và tự giải quyết bài toán thông qua việc biết thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới với các kiến thức liên quan đã học, với kinh nghiệm của bản thân. Đó là các cơ sở để các em học giải tốt dạng toán rút về đơn vị nói riêng, học giải dạng toán hợp nói chung.
          Dạy toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là cả một quá trình kiên trì đầy sự sáng tạo, nhất là đối với dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, cho nên khi hướng dẫn học sinh giải toán nói chung, giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng chúng ta cần phải.
1. Taọ niềm hứng thú, sự say mê giải toán bởi các em có thích học toán thì các em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phương pháp giải bài toán một cách thích hợp.
          2. Hướng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kỹ năng cần thiết khi giải toán bằng phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó.
          3. Kích thích tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi, phát hiện đường lối trong giải toán.
          4. Thường xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán.
          5. Tập cho học sinh có kỹ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bước giải trong bài toán.
          6. Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì tìm và phát hiện ra “Chỗ hổng” sau mỗi lần hướng dẫn để khắc phục, rèn luyện.
          7. Nên động viên, khuyến khích các em. Đưa ra phương pháp giải cần hợp lý, tránh đưa ra tình huống phủ định ngay.
          8. Gần gũi, động viên những em học yếu để các em có tiến bộ, giúp đỡ nhẹ nhàng khi cần thiết.
III. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
          * Đối với giáo viên: Tích cực tham gia tích luỹ kiến thức để tập trung nghiên cứu các phương pháp đổi mới ở tất cả các môn học bậc Tiểu học.
          * Đối với tổ chuyên môn: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, thảo luận sâu sắc cách viết và làm sáng kiến kinh nghiệm.
          * Đối với nhà trường: Cần phát động sâu rộng phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm hàng năm.
 
 
IV. LỜI KẾT
          Trên đây, tôi vừa trình bày phương pháp giúp học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Một phần, tôi muốn góp phần nhỏ vào phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học nói chung, phương pháp giải dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị nói riêng. Một phần, tôi muốn trình bày ý kiến của mình để các đồng nghiệp tham khảo, đóng góp ý kiến xây dựng cho phương pháp dạy học của tôi hoàn thiện hơn. Kính mong hội đồng khoa học và nhiệt tình đóng góp ý kiến để tôi có nhiều thành công trong sự đổi mới phương pháp dạy học.
          Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm là tôi nghiên cứu và áp dụng tại trường Tiểu học Cấn Hữu, không sao chép của ai.
          Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cấn Hữu, ngày 10 tháng 5 năm 2012
                                                                        Người thực hiện
 
 
                                                                          Hà Thị Hiên
  Thông tin chi tiết
Tên file:
Phương pháplieen quan đến giải toán liên quan đến rút đơn vị lớp 3
Phiên bản:
N/A
Tác giả:
Hà Thị Hiên (hiennt-c1canhuu@quocoai.edu.vn)
Website hỗ trợ:
N/A
Thuộc chủ đề:
Sáng kiến kinh nghiệm
Gửi lên:
14/01/2015 15:23
Cập nhật:
24/01/2018 10:28
Người gửi:
thcanhuu
Thông tin bản quyền:
N/A
Dung lượng:
258.00 KB
Xem:
1689
Tải về:
30
  Tải về
Từ site TRƯỜNG TIỂU HỌC CẤN HỮU:
   Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?
Hãy click vào hình sao để đánh giá File

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Văn bản mới

Số 292/CV-PGDDT

Hội thi giai điệu tuổi hồng Cấp Huyện năm học 2018-2019

Thời gian đăng: 18/10/2018

lượt xem: 17 | lượt tải:10

QD số 3913/QD-UBND

Quy định tiêu chí đánh giá hàng tháng đối với công chức, viên chức

Thời gian đăng: 18/10/2018

lượt xem: 28 | lượt tải:6

930_BGDĐT-GDTC

Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học

Thời gian đăng: 31/03/2018

lượt xem: 76 | lượt tải:15
Mới được download
Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Hỗ trợ khách hàng
Thành viên
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
1
2
3
Video
Thống kê
  • Đang truy cập9
  • Hôm nay165
  • Tháng hiện tại20,564
  • Tổng lượt truy cập310,951
Liên kết website
Quảng cáo 1
Quảng cáo 2
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây